Bài đăng phổ biến

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2008

Đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm

Đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm


''Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm chống tham ô, lãng phí, quan liêu,'' và tác phẩm ''sửa đổi lối làm việc'' của Chủ tịch Hồ Chí Minh và người là tấm gương sáng mẫu mực trong thực hành những chuẩn mực đạo đức đó:

Nói đến thực hành tiết kiệm là một vấn đề có tính quy luật phổ biến đối với mọi cá nhân, đơn vị, Quốc gia trong quá trình phát triển. Nhất là trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn và khả năng tích lũy kém, để tăng sức cạnh tranh, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mọi chủ thể kinh tế có nhiều việc phải làm, trong đó mấu chốt là vấn đề tiết kiệm. Tiết kiệm là để hạn chế đầu vào, mở rộng đầu ra. Nhưng tiết kiệm không có nghĩa là bủn xỉn. Những chi phí đúng và cần thiết thì nhất thiết phải chi. Vì vậy chống lãng phí phải gắn liền với thực hành tiết kiệm. Chống lãng phí phải có thói quen cần, kiệm như lời Bác Hồ thường dạy:
Biểu hiện của lãng phí rất đa dạng. Có thể lãng phí một nguồn lực, một tài sản vì lý do nào đó không được khai thác, hoặc chậm sử dụng. Lại có thể do khai thác không hết năng lực, đầu tư không đúng mục đích, không đúng nhiệm vụ, hoặc đầu tư xong không sử dụng được, bỏ phí. Cũng có thể lãng phí do phô trương, hình thức, chi phí quá mức cần thiết hoặc không cần thiết...
Có nhiều phương diện khác nhau để xem xét, xác định tình trạng lãng phí, song có thể căn cứ ở mấy điểm chính sau:
Lãng phí do những chi phí, tổn hao và sử dụng nguồn lực tài chính, nhân lực và các nguồn lực khác trên mức hợp lý; hoặc không đạt được mục tiêu, kết quả đã xác định, nếu có thì chất lượng, hiệu quả ở mức thấp hơn yêu cầu đặt ra. Do những hư hao, tổn thất không đáng có hoặc không thể được phép. Khái quát lại, những điểm nêu trên do hành vi chủ quan của cá nhân, tập thể đều được coi là hành vi lãng phí.
Lãng phí có thể xảy ra ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa phương; ở mọi cấp từ Trung ương xuống cơ sở; trong các gia đình và từng người dân.
Lãng phí có thể từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều tùy theo tính chất và phạm vi của nó. Lãng phí có khi thành thói quen do chủ thể gây ra mà không hề nhận thức được, như lãng phí về thời gian, làm việc cầm chừng, thiếu trách nhiệm, hiệu quả thấp. Có khi lãng phí một cách có chủ định nhằm phô trương hình thức. Cũng có trường hợp không muốn lãng phí, không thể lãng phí do túng thiếu, nhưng do những tập tục, thói quen mà sinh ra lãng phí. Người tổ chức biết rõ sự lãng phí nhưng vẫn làm với mục đích cá nhân hay động cơ trước mắt, hoặc bởi một lý do nào đấy. Tất nhiên họ có đủ "lý lẽ" để ngụy biện cho sự "cần thiết" của việc làm lãng phí mà họ gây ra. Dù ở hình thức và phạm vi nào, hậu quả của lãng phí là gây thiệt hại tài sản, tiền của, thời gian, sức lực của Đảng, Nhà nước, của cơ quan, đơn vị, nhân dân, gây ra những tiêu cực xã hội về nhiều mặt. Cho nên chống lãng phí là việc làm cần thiết, triệt để, hệ thống, đồng bộ, thường xuyên. Nó phải trở thành ý thức tự giác đối với mọi người trên cơ sở nhận thức đúng về bản chất, tác hại của lãng phí đối với cá nhân và xã hội.
Lãng phí là mặt đối lập với tiết kiệm. Tiết kiệm là sử dụng đúng mức, không phung phí sức lực, thời gian, của cải và có thể tích lũy được do biết chi tiêu, sử dụng đúng mức trong quá trình lao động, sản xuất và sinh hoạt. Tiết kiệm là sử dụng nguồn lực tài chính, lao động và các nguồn lực khác ở mức thấp hơn định mức tiêu chuẩn, chế độ quy định nhưng vẫn mang lại kết quả cụ thể, vẫn đạt được mục đích đã xác định.
Lãng phí thường cặp đôi với quan liêu, là tiền đề, hệ quả của nhau. Trong mối quan hệ này, quan liêu như một yếu tố tạo điều kiện cho phát sinh lãng phí. Lãng phí càng làm cho quan liêu trầm trọng hơn, xa thực tế hơn. Nguy hại nhất của tệ quan liêu là buông lỏng quản lý, xa rời thực tế, xa rời quần chúng, đi đến độc đoán, chuyên quyền, chủ quan duy ý chí. Do quan liêu nên không nắm được thực chất tình hình dẫn đến quyết sai, làm sai, gây thất thoát, lãng phí. Vì quan liêu đã bỏ qua việc khảo sát điều tra, nắm chắc tình hình, nôn nóng, bỏ qua việc chỉ đạo, kiểm tra giám sát sau khi đã quyết định. Quan liêu không biết được thực chất hiệu quả những công việc mà mình đã quyết và đã làm; không đánh giá đúng, tổng kết đúng, rút ra những kinh nghiệm đúng, những bài học thiết thực.
Lãng phí và tham ô có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tham ô và lãng phí đều làm thâm hụt ngân sách, thất thoát tài sản, là nguyên nhân dẫn đến sự mất mát tiền của, tài nguyên, mất lòng tin của nhân dân, là nguy cơ cho tình trạng bất ổn định kinh tế - xã hội, nguy cơ đối với sự tồn vong của đất nước.
Nhiều trường hợp, lãng phí, thất thoát xuất phát từ động cơ vụ lợi của cá nhân, tổ chức có quyền, có chức gây ra. Họ lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ra lãng phí, thất thoát để từ đó tham ô. Sự kết hợp này vừa khó phát hiện, vừa làm tổn hại tài sản của Đảng, Nhà nước, nhân dân lên gấp nhiều lần so với tham ô đơn thuần. Để chống tham ô nhất thiết phải chống lãng phí. Nếu lãng phí không được ngăn chặn thì tham ô có nhiều cơ hội phát triển.
Tham ô và lãng phí đều gây thiệt hại lớn cho Đảng, Nhà nước, tập thể và công dân, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Nó gây trở ngại lớn đối với quá trình đổi mới xây dựng đất nước, làm thất thoát tài sản lớn, làm biến chất cán bộ, công chức, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, làm xấu đi hình ảnh Việt Nam trong con mắt của cộng đồng thế giới, trước hết là các nhà đầu tư nước ngoài.
b) Tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, quan liêu mà cán bộ, đảng viên, công chức phải thường xuyên học tập và làm theo.
Về thực hành tiết kiệm: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh Tiết kiệm: không phải là bủn xỉn, “không phải xem đồng tiền to bằng cái nong”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép mọi người nhịn ăn, nhịn mặc; trái lại, cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, để dần dần nâng cao mức sống của nhân dân; tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, để cải thiện đời sống nhân dân. Tiết kiệm bao gồm: tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của và tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Tất cả mọi người ai ai cũng phải coi thực hành tiết kiệm là một quy luật đi lên của đất nước, một phương pháp của chế độ kinh tế, không phải chỉ nước nghèo mới thực hành tiết kiệm, mà cả nước giàu cũng phải tiết kiệm.
Về chống tham ô, lãng phí: Tham ô đối với cán bộ, đó là “ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân, ăn bớt của bộ đội, tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung để làm quỹ riêng”; đối với nhân dân, đó là “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”. Còn lãng phí bao gồm nhiều mặt: lãng phí sức lao động, lãng phí thời gian, lãng phí tiền của, lãng phí của cải vật chất của nhân dân, của đất nước. Nguyên nhân gây ra lãng phí, là do trình độ non kém, do thiếu kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, do độc đoán đưa ra những quyết định sai lầm,. Biểu hiện của lãng phí rất đa dạng. Có thể lãng phí một nguồn lực, một tài sản vì lý do nào đó không được khai thác, hoặc chậm sử dụng. Lại có thể do khai thác không hết năng lực, đầu tư không đúng mục đích, không đúng nhiệm vụ, hoặc đầu tư xong không sử dụng được, bỏ phí. Cũng có thể lãng phí do phô trương, hình thức, chi phí quá mức cần thiết hoặc không cần thiết...
Về bệnh quan liêu: Bệnh quan liêu từ đâu ra? Theo Bác, nguyên nhân của bệnh đó là: Do xa nhân dân, do đó không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân; do khinh nhân dân, cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình; do sợ nhân dân, khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa; do không tin cậy nhân dân, họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cùng làm được; do không hiểu biết nhân dân, họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực. Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông; do không yêu thương nhân dân, nên chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân... Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh, dọa nạt dân. Bác kết luận: Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là hỏng việc, vì vậy chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.
c) Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “ Sửa đổi lối làm việc” nhằm khắc phục và loại bỏ biểu hiện tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền, kém kỷ luật, thiếu ý thức trách nhiệm,... của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Từ sự phân tích sâu sắc những biểu hiện, bản chất, nội dung, nguồn gốc của tham ô, lãng phí, quan liêu, Hồ Chí Minh còn đề ra những biện pháp nhằm chống các căn bệnh tệ hại này một cách có hiệu quả: Một là, phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hai là, phải dựa vào quần chúng, phát động quần chúng tích cực tham gia đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu và thực hành tiết kiệm. Ba là, phải hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ. Bốn là, phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra và xử lý kỷ luật nghiêm minh những tập thể, cá nhân vi phạm. Năm là, thường xuyên chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để thực hiện có hiệu quả cần coi trọng và tiến hành đồng bộ các biện pháp. Người còn yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”.
Hồ Chí Minh yêu cầu trước hết phải tạo nhận thức chung và quyết tâm chống tham ô, lãng phí, quan liêu; coi chống tham ô, lãng phí, quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận, và chống bệnh quan liêu phải theo một nguyên tắc là “ Theo đúng đường lối nhân dân” phải được tiến hành trước hết và trực tiếp ở cơ sở, cơ quan, đơn vị.
(Tóm tắt học tập về đạo đức HCM)

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2008

Đạo đức Hồ Chí Minh

Đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm

''Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm chống tham ô, lãng phí, quan liêu,'' và tác phẩm ''sửa đổi lối làm việc'' của Chủ tịch Hồ Chí Minh và người là tấm gương sáng mẫu mực trong thực hành những chuẩn mực đạo đức đó:

Nói đến thực hành tiết kiệm là một vấn đề có tính quy luật phổ biến đối với mọi cá nhân, đơn vị, Quốc gia trong quá trình phát triển. Nhất là trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn và khả năng tích lũy kém, để tăng sức cạnh tranh, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mọi chủ thể kinh tế có nhiều việc phải làm, trong đó mấu chốt là vấn đề tiết kiệm. Tiết kiệm là để hạn chế đầu vào, mở rộng đầu ra. Nhưng tiết kiệm không có nghĩa là bủn xỉn. Những chi phí đúng và cần thiết thì nhất thiết phải chi. Vì vậy chống lãng phí phải gắn liền với thực hành tiết kiệm. Chống lãng phí phải có thói quen cần, kiệm như lời Bác Hồ thường dạy:
Biểu hiện của lãng phí rất đa dạng. Có thể lãng phí một nguồn lực, một tài sản vì lý do nào đó không được khai thác, hoặc chậm sử dụng. Lại có thể do khai thác không hết năng lực, đầu tư không đúng mục đích, không đúng nhiệm vụ, hoặc đầu tư xong không sử dụng được, bỏ phí. Cũng có thể lãng phí do phô trương, hình thức, chi phí quá mức cần thiết hoặc không cần thiết...
Có nhiều phương diện khác nhau để xem xét, xác định tình trạng lãng phí, song có thể căn cứ ở mấy điểm chính sau:
Lãng phí do những chi phí, tổn hao và sử dụng nguồn lực tài chính, nhân lực và các nguồn lực khác trên mức hợp lý; hoặc không đạt được mục tiêu, kết quả đã xác định, nếu có thì chất lượng, hiệu quả ở mức thấp hơn yêu cầu đặt ra. Do những hư hao, tổn thất không đáng có hoặc không thể được phép. Khái quát lại, những điểm nêu trên do hành vi chủ quan của cá nhân, tập thể đều được coi là hành vi lãng phí.
Lãng phí có thể xảy ra ở tất cả các ngành, các lĩnh vực, các địa phương; ở mọi cấp từ Trung ương xuống cơ sở; trong các gia đình và từng người dân.
Lãng phí có thể từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều tùy theo tính chất và phạm vi của nó. Lãng phí có khi thành thói quen do chủ thể gây ra mà không hề nhận thức được, như lãng phí về thời gian, làm việc cầm chừng, thiếu trách nhiệm, hiệu quả thấp. Có khi lãng phí một cách có chủ định nhằm phô trương hình thức. Cũng có trường hợp không muốn lãng phí, không thể lãng phí do túng thiếu, nhưng do những tập tục, thói quen mà sinh ra lãng phí. Người tổ chức biết rõ sự lãng phí nhưng vẫn làm với mục đích cá nhân hay động cơ trước mắt, hoặc bởi một lý do nào đấy. Tất nhiên họ có đủ "lý lẽ" để ngụy biện cho sự "cần thiết" của việc làm lãng phí mà họ gây ra. Dù ở hình thức và phạm vi nào, hậu quả của lãng phí là gây thiệt hại tài sản, tiền của, thời gian, sức lực của Đảng, Nhà nước, của cơ quan, đơn vị, nhân dân, gây ra những tiêu cực xã hội về nhiều mặt. Cho nên chống lãng phí là việc làm cần thiết, triệt để, hệ thống, đồng bộ, thường xuyên. Nó phải trở thành ý thức tự giác đối với mọi người trên cơ sở nhận thức đúng về bản chất, tác hại của lãng phí đối với cá nhân và xã hội.
Lãng phí là mặt đối lập với tiết kiệm. Tiết kiệm là sử dụng đúng mức, không phung phí sức lực, thời gian, của cải và có thể tích lũy được do biết chi tiêu, sử dụng đúng mức trong quá trình lao động, sản xuất và sinh hoạt. Tiết kiệm là sử dụng nguồn lực tài chính, lao động và các nguồn lực khác ở mức thấp hơn định mức tiêu chuẩn, chế độ quy định nhưng vẫn mang lại kết quả cụ thể, vẫn đạt được mục đích đã xác định.
Lãng phí thường cặp đôi với quan liêu, là tiền đề, hệ quả của nhau. Trong mối quan hệ này, quan liêu như một yếu tố tạo điều kiện cho phát sinh lãng phí. Lãng phí càng làm cho quan liêu trầm trọng hơn, xa thực tế hơn. Nguy hại nhất của tệ quan liêu là buông lỏng quản lý, xa rời thực tế, xa rời quần chúng, đi đến độc đoán, chuyên quyền, chủ quan duy ý chí. Do quan liêu nên không nắm được thực chất tình hình dẫn đến quyết sai, làm sai, gây thất thoát, lãng phí. Vì quan liêu đã bỏ qua việc khảo sát điều tra, nắm chắc tình hình, nôn nóng, bỏ qua việc chỉ đạo, kiểm tra giám sát sau khi đã quyết định. Quan liêu không biết được thực chất hiệu quả những công việc mà mình đã quyết và đã làm; không đánh giá đúng, tổng kết đúng, rút ra những kinh nghiệm đúng, những bài học thiết thực.
Lãng phí và tham ô có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tham ô và lãng phí đều làm thâm hụt ngân sách, thất thoát tài sản, là nguyên nhân dẫn đến sự mất mát tiền của, tài nguyên, mất lòng tin của nhân dân, là nguy cơ cho tình trạng bất ổn định kinh tế - xã hội, nguy cơ đối với sự tồn vong của đất nước.
Nhiều trường hợp, lãng phí, thất thoát xuất phát từ động cơ vụ lợi của cá nhân, tổ chức có quyền, có chức gây ra. Họ lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ra lãng phí, thất thoát để từ đó tham ô. Sự kết hợp này vừa khó phát hiện, vừa làm tổn hại tài sản của Đảng, Nhà nước, nhân dân lên gấp nhiều lần so với tham ô đơn thuần. Để chống tham ô nhất thiết phải chống lãng phí. Nếu lãng phí không được ngăn chặn thì tham ô có nhiều cơ hội phát triển.
Tham ô và lãng phí đều gây thiệt hại lớn cho Đảng, Nhà nước, tập thể và công dân, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước. Nó gây trở ngại lớn đối với quá trình đổi mới xây dựng đất nước, làm thất thoát tài sản lớn, làm biến chất cán bộ, công chức, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, làm xấu đi hình ảnh Việt Nam trong con mắt của cộng đồng thế giới, trước hết là các nhà đầu tư nước ngoài.
b) Tư tưởng, tấm gương đạo đức của Bác về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, quan liêu mà cán bộ, đảng viên, công chức phải thường xuyên học tập và làm theo.
Về thực hành tiết kiệm: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh Tiết kiệm: không phải là bủn xỉn, “không phải xem đồng tiền to bằng cái nong”, gặp việc đáng làm cũng không làm, đáng tiêu cũng không tiêu. Tiết kiệm không phải là ép mọi người nhịn ăn, nhịn mặc; trái lại, cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, để dần dần nâng cao mức sống của nhân dân; tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, để cải thiện đời sống nhân dân. Tiết kiệm bao gồm: tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của và tất cả mọi người đều phải tiết kiệm. Tất cả mọi người ai ai cũng phải coi thực hành tiết kiệm là một quy luật đi lên của đất nước, một phương pháp của chế độ kinh tế, không phải chỉ nước nghèo mới thực hành tiết kiệm, mà cả nước giàu cũng phải tiết kiệm.
Về chống tham ô, lãng phí: Tham ô đối với cán bộ, đó là “ăn cắp của công làm của tư, đục khoét của nhân dân, ăn bớt của bộ đội, tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung để làm quỹ riêng”; đối với nhân dân, đó là “ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế”. Còn lãng phí bao gồm nhiều mặt: lãng phí sức lao động, lãng phí thời gian, lãng phí tiền của, lãng phí của cải vật chất của nhân dân, của đất nước. Nguyên nhân gây ra lãng phí, là do trình độ non kém, do thiếu kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, do độc đoán đưa ra những quyết định sai lầm,. Biểu hiện của lãng phí rất đa dạng. Có thể lãng phí một nguồn lực, một tài sản vì lý do nào đó không được khai thác, hoặc chậm sử dụng. Lại có thể do khai thác không hết năng lực, đầu tư không đúng mục đích, không đúng nhiệm vụ, hoặc đầu tư xong không sử dụng được, bỏ phí. Cũng có thể lãng phí do phô trương, hình thức, chi phí quá mức cần thiết hoặc không cần thiết...
Về bệnh quan liêu: Bệnh quan liêu từ đâu ra? Theo Bác, nguyên nhân của bệnh đó là: Do xa nhân dân, do đó không hiểu tâm lý, nguyện vọng của nhân dân; do khinh nhân dân, cho là “dân ngu khu đen”, bảo sao làm vậy, không hiểu được chính trị, lý luận cao xa như mình; do sợ nhân dân, khi có sai lầm, khuyết điểm thì sợ nhân dân phê bình, sợ mất thể diện, sợ phải sửa chữa; do không tin cậy nhân dân, họ quên rằng không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong, có lực lượng nhân dân, thì việc khó mấy, to mấy cùng làm được; do không hiểu biết nhân dân, họ quên rằng nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực. Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông; do không yêu thương nhân dân, nên chỉ biết đòi hỏi nhân dân, không thiết thực giúp đỡ nhân dân... Có nơi, bệnh quan liêu mệnh lệnh trầm trọng đến nỗi cán bộ lừa phỉnh, dọa nạt dân. Bác kết luận: Bệnh quan liêu mệnh lệnh chỉ đưa đến một kết quả là hỏng việc, vì vậy chúng ta phải mau mau chữa bệnh nguy hiểm ấy.
c) Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “ Sửa đổi lối làm việc” nhằm khắc phục và loại bỏ biểu hiện tiêu cực như quan liêu, tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền, kém kỷ luật, thiếu ý thức trách nhiệm,... của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Từ sự phân tích sâu sắc những biểu hiện, bản chất, nội dung, nguồn gốc của tham ô, lãng phí, quan liêu, Hồ Chí Minh còn đề ra những biện pháp nhằm chống các căn bệnh tệ hại này một cách có hiệu quả: Một là, phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hai là, phải dựa vào quần chúng, phát động quần chúng tích cực tham gia đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu và thực hành tiết kiệm. Ba là, phải hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước, đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ. Bốn là, phải tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, thanh tra và xử lý kỷ luật nghiêm minh những tập thể, cá nhân vi phạm. Năm là, thường xuyên chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, đảng viên. Để thực hiện có hiệu quả cần coi trọng và tiến hành đồng bộ các biện pháp. Người còn yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật”.
Hồ Chí Minh yêu cầu trước hết phải tạo nhận thức chung và quyết tâm chống tham ô, lãng phí, quan liêu; coi chống tham ô, lãng phí, quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận, và chống bệnh quan liêu phải theo một nguyên tắc là “ Theo đúng đường lối nhân dân” phải được tiến hành trước hết và trực tiếp ở cơ sở, cơ quan, đơn vị.

Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

1. Về nhận thức:
a/. Về sự cần thiết phải học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Sau ba mươi năm thống nhất độc lập, đất nước ta đã và đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phát triển nhằm xây dựng xã hội mới, một xã hội mà “ Dân giầu, nước mạnh, công bằng, Dân chủ văn minh” theo con đường xã hội chủ nghĩa, thì việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở nên hết sức quan trọng, bởi vì tư tưởng đao đức của Hồ Chí Minh luôn là bộ phận quan trọng của nền tảng tinh thần xã hội, là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để nhân dân ta phát huy nội lực, vượt qua thách thức, khó khăn để tiến lên. Đặc biệt, đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh là một biện phát quan trọng để mọi cán bộ đảng viên và tổ chức đảng sửa chữa, trau rồi, khắc phục tình trạng suy thoái “có tính nghiêm trọng” về đạo đức, lối sống, giữ vững niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
- Trước hết cần nhận thức về đạo đức. Đạo đức, là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tác, chuẩn mực, định hướng giá trị đựợc xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và toàn xã hội. Đối với mỗi cá nhân, ý thức và hành vi đạo đức mang tính tự giác, chủ yếu xuất phát từ nhu cầu bên trong, đồng thời chụi tác động của dư luận xã hội, sự kiểm tra của những nguời xung quanh.
Đạo đức xã hội bao gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức.Ý thức đạo đức là toàn bộ quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm trách nhiệm, hạnh phúc công bằng v.v. và về những qui tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi, ứng xử cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân.
Hành vi đạo đức là sự biểu hiện trong ứng xử thực tiển của ý thực đạo đức mà con người đã nhận thúc và lựa chọn. đó là sự ứng xử trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với tự nhiện, đồ vật, với xã hội và với chính mình.
Quan hệ đạo đức là hệ thống mối quan hệ giữa người với người trong xã hội, xét về đạo đức. Quan hệ đạo đức thể hiện dưới các phạm trù bổn phận, lưong tâm nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, cộng dồng và toàn xã hội.
Đạo đức là một phạm trù lịch sử, kết quả của quá trình phát triển xã hội loài người. Đạo đức thuộc kiến trúc thượng tầng, chịu sự qui định bới cơ sở hạ tầng. Sự thay đổi của hạ tầng kinh tế - xã hội sẽ làm thay đổi các chuẩn mực đạo đức xã hội. Tuy nhiên, nhiều chuẩn mực, giá trị đạo đức, như nhân đạo, dũng cảm, vị tha…, có ý nghĩa toàn nhân loại và tồn tại trong các xã hội khác nhau.
Do tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, nên trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, chuẩn mực đạo đức của giai cấp thống trị chi phối đạo đức xã hội.
Do hành vi đạo đức bắt nguồn từ ý thức đạo đức, nên đạo đức thường tỷ lệ thận với trình độ học vấn, trình độ nhận thức của mỗi cá nhân. Nhưng không phải cứ có trình độ học vấn cao là có trình độ văn hóa, đạo đức cao và ngược lại, bới có sự khác biệt và có khoảng cách giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức, giữa nhận thức và hành động của mỗi người.
Vai trò đạo đức trong xã hội.
Đạo đức có vai trò hết sức quan trọng trong xã hội: Đạo đức, với những chuẩn mực giá trị đúng đắn, là một bộ phận quan trong của nền tảng tinh thẫn xã hội.
Đạo đức góp phần giữ vững ổn định xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng xã hôi “dân giàu, nước mạnh, công bằng, đân chủ, văn minh”.
Trong xã hội sự khủng hoảng của đạo đức là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội…
Vai trò đạo đức thể hiện rõ trong các chức năng của đạo đức trong đời sống xã hội.
Chức năng giáo dục: Những chuẩn mực đạo đức được cộng đồng chấp nhận tác động vào hành vi đạo đức của mỗi cá nhân, để mỗi cá nhân tự giáo dục, rèn luyện, hoàn thiện nhân cách của mình theo chuẩn mực chung của xa hội.
Khi nhận xét đánh giá người khác, người nhận xét cũng tự điều chỉnh mình, tức là tự giáo dục mình qua đó làm cho chuẩn mực đạo đức của xã hội ngày càng hoàn thiện.
Chức năng điều chỉnh: Chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi của các cá nhân, của cả cộng đồng và mối quan hệ giữa người và người trong xã hội.
Các nguyên tắc, chuẩn mực và định hướng giá trị đạo đức, cùng với sự kiểm tra, đánh giá của toàn xã hội có tác dụng điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân, để họ tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu chung của cộng đồng.
Những chuẩn mực đạo đức được cộng đồng và toàn xã hội thừa nhận cùng với pháp luật và những qui định khác, là cộng cụ quan trọng để điều chỉnh quan hệ đạo đức của cả cộng đồng.
Trong quan hệ giữa con người với con người quan niệm hành vi đạo đức của người này có tác động đến quan niệm và hành vi đạo đức của người khác và ngược lại.
Chức năng phán ánh: Chung ta đã biết tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, nên sự tồn tại mâu thuẩn xã hội cũng thể hiện trong đạo đức xã hội.
Hành vị đạo đức của mỗi cá nhân trong xã hội ngoài thể hiện ý thức đạo đức của họ còn phản ánh quan hệ lợi ích của họ với các cá nhân khác và toàn xã hội.
Sự phê phán của xã hội về những hành vị đạo đực của mỗi cá nhân thể hiện mối quan hệ xã hội hiện thực.
Truyến thống và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta
Trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước đân tộc ta đã hình thành nên các chuẩn mực, giá trị đạo đức tốt đẹp trong quan hệ gia đình, cộng đồng và xã hội phù hợp với yêu cầu tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam. Ông cha ta luôn coi trọng và phát huy các chuẩn mực, giá trị đạo đức tốt đẹp. Đó là ruyền thống yêu quê hương đât nước, gắn bó với thiên nhiên, với cộng đồng, đoàn kết, thủy chung, nhân ái, quí trọng nghĩa tình, cần cù, yêu lao động, dũng cảm kiên cường, hiếu học sáng tạo…
Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ tổ quốc và xây dựng xã hội mới, Đảng và Bác Hồ luôn luôn chăm lo gìn giữ và phát huy truền thổng đạo đức tốt đẹp của dân tộc, xây dựng nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng. Đó là lòng yêu nước, thương mòi, săn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, sống có tình, có nghĩa, có đạo đức, có lý tưởng, vì nước, vì dân, có ý chí tự lực tự cường, tinh thân đoàn kết nhân aí… Đạo đức cách mạng đã trở thành một bộ phận quan trong của nền tảng tinh thần xã hội.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, truyền thống đạo đức của dân tộc đã được phát triển và bổ sung thêm các giá trị mới. Đó là những phẩm chất đạo đức mới, tiến bộ được xã hội thừa nhận như: năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, quyết tâm vượt khó, quyết chí làm giàu, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển.
Truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những giá trị đạo đức mới hình thành trong giai đoạn mới là xu thế chủ đạo, quyết đinh chiều hướng phát triển của đạo đức xã hội ta trong giai đoạn hiện nay.
Về sự suy thoái đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay.
Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần nêu lên những mặt tốt đẹp của đạo đức trong thời kỳ đổi mới, đồng thời cũng chỉ ra thực trạng và mức độ suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và xã hội, thể hiện các dạng chủ yêu sâu đây:
- Một là, chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng, vụ lợi… có xu hướng phát triển. một bộ phân cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, lợi dụng vị trí lãnh đạo và quyền lực để mưu lợi cá nhân, coi nhẹ lợi ich tập thể. Vi phạm tư cách đảng viên, trách nhiệm công dân.
- Hai là, nạn tham nhũng, đưa và nhận hối lộ, bòn rút của công… diễn ra nhiều ngành, nhiều địa phương, nhiều lĩnh vưc, trở thành “Quốc nạn”.
- Ba là, quan liêu, xa dân, lạnh đạm, vô cảm truớc khó khăn bức xúc, yêu cầu chính đáng của dân, làm giảm lòng tin của quần chúng đối Đảng và nhà nước.
- Bốn là, lối sống thiếu trung thực, cơ hội, “chạy chọt” khá phố biến, gây mất đoàn kết nội bộ.
- Năm là, nói không đi đôi với làm, nói và làm trái nghị quyết của Đảng, nói nhiều làm ít, phát ngôn tùy tiện, cục bộ địa phương chủ nghĩa,.. gây rối ren nội bộ, mất uy tín trước quần chúng.
- Sáu là, Suy thoái về đạo đức trong quan hệ gia đình và quan hệ giữa cá nhân với xã hội. Như: tranh chấp tài sản trong gia đình, ngược đãi cha mẹ, ông bà, lừa đảo bạn bè … tăng lên. Lối sống buôn thả, thiếu ý chí phân đấu .v.v. tồn tại trong không ít nguời.
- Bảy là, đạo đức nghề nghiệp bị sa sút, ngay cả trong lĩnh vực được xã hội tôn vinh như y tế, giáo dục, pháp luật, báo chi…
Tinh chất nghiêm trọng sự suy thoái về đạo đức, lối sống, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên cùng với những tiêu cực trong xã hội được Đại hội X của Đảng coi là “môt nguy cơ, thách thức lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ.”
Trình trạng suy thoái đạo đức có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan và khách quan chính sâu đây:
Về nguyên nhân khách quan.
Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế đã tác động không nhỏ đến đạo đức xã hội. Kinh tế thị trường một mặt thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, mặt khác kích thích chủ nghĩa cá nhân cực đoan, chạy theo lợi ích vật chất, bất chấp kỷ cương đạo lý. Một số người do nhận thức không đầy đủ hoặc kém vững vàng trước những biến động đó đã để chủ nghĩa cá nhân phát triển, xa rời những giá trị đạo đức, để chủ nghĩa thực dụng chi phối hành vi đạo đức của họ.
Sự phát triển của khoa học - công nghệ, quá trình toàn cầu hóa bùng nổ, thông tin toàn cầu đã tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Trong điều kiện đó những mặt tiêu cực của văn hóa, lối sống tư sản phương Tây có điều kiện phát triển mạnh vào nước ta, trong khi chúng ta chưa có biện pháp ngăn chặn hưu hiệu. Mặt khác, các thế lực thù địch lợi dụng toàn cầu hóa để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, thực hiện cuộc “xâm lăng” về văn hóa, đạo đức.
Do sự “lạc hậu tương đối” của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, trong xã hội ta vẫn còn tàn dư của đạo đức phong kiến, thực dân. Thực trạng đó trong chừng mục nhất định đã góp phần làm xói mòn giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta.
Trong điều kiện phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Các thế lực thù địch đã, đang chủ động tác động vào đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, coi đó là biện pháp thực hiện “diễn biến hòa binh”. Trên thực tế, đã có một số người công khai hay ngấm ngầm, trở thành truyền truyền cho lối sống tư sản, thực dụng, vô tình hay hữu ý đã phản bội lại mục tiêu lý tưởng đã lựa chon.
Về nguyên nhân chủ quan:
Chúng ta chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò nền tảng đạo đức trong ổn định và phát triển xã hội, chưa gắn chặt phát triển kinh tế với xây dựng văn hóa, đạo đức lối sống. Một thời gian dài biểu hiện buông lỏng việc giáo dục, quản lý cán bộ, công chức, thiếu sự phối hợp giữa các cấp các ngành trong việc giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trong công tác tổ chức cán bộ, việc đánh giá qui hoạch lựa chọn, bồi dưỡng, đề bạt, quản lý cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp chưa coi trọng xem xét chặt chẽ các tiêu chuẩn đạo đức.
Sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong các cơ quan, đơn vị còn bị xem nhẹ, có nơi tê lệt, công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật còn hình thức, chưa nghiêm minh, chính xác.
Một bộ phận cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ có chức có quyền và gia đình họ, chưa làm gương về đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân noi theo.
Giáo dục đạo đức, lương tâm nghề nghiệp chưa được quan tâm đúng mức.
- Xuất phát từ thực tế nêu trên, đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên và nhân dân là yêu cầu cấp thiết của sự ghiệp cách mang trong giai đoạn phát triển mới.
Văn hóa, đạo đức là bộ phận trọng yếu của nền tảng tinh thần và động lực phát triển xã hội. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên có nguy cơ làm giảm sự thống nhất trong đảng, sự đồng thuận trong xã hội, tác động đến phát triển bền vững của xã hội.
Sự suy thoái đạo đức, lối sống đang phá hoạt hạnh phúc nhiều gia đình, làm giảm nguồn lực gây hậu quả xấu đến phát triển kinh tế.
Sự suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay là vấn đề bức xúc trong dư luận xã hội, nhân dân lo lắng, bất bình, ảnh hưởng xấu đến uy tín lãnh đạo của Đảng. Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ.
Vì vây, yêu cầu của giai đoạn phát triển mới đổi với việc giáo dục đạo đức là:
Trong khi đặt ra phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, Đảng ta khảng định vai trò quyết định là nhân tố con nguời, vai trò nền tảng tinh thần là động lực phát triển văn hóa, đạo đức. Giáo dực đạo đức là một biện pháp thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, tạo điều kiện phát triển nhanh, hiệu quả bền vững của đất nước theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh. xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
Văn hóa, đạo đức là động lực phát triển xã hội, công cuộc đổi mới đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao, cần phát huy mạnh mẽ những chuẩn mực đạo đức mới như năng động, sáng tạo, quyết tâm không chịu đói nghèo, đưa đất nước tiến lên cùng thời đại… là động lực to lớn đẩy mạnh công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời đòi hỏi chung ta phải biết giữ gìn, phát huy các giá trị đạo đức tuyên thống, hình thành, bổ sung những giá trị mới. gìn giữ bản sắc văn hóa Việt nam.
Kinh tế thị trường phát triển, càng đặt ra yêu cầu cao về đạo đức xã hôi nói chung, đạo đức trong kinh doanh nói riêng, mỗi cá nhân muốn thành đạt phải biết canh tranh, hợp tác, năng động sáng tạo, đảm bảo chữ “tín” có lương tâm nghề nghiệp.
Trong trình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống đang như hiện nay, cán bộ, đảng viên của Đảng muốn phát huy vai trò tiên phong gương mẫu, lãnh đạo được quần chúng, nhất thiết phải học tập, tu dưỡng, rèn luyên để trở thành tấm gương trong sáng về đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên, cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liên chính, chi công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
Học tập, tu dưỡng đạo đức, đòi hỏi mỗi nguời phải thường xuyên học tập, rèn luyện, tự hoàn thiện mình, Mọi sự buông thả, thiếu tự giác học tập, rèn luyện, xa rời quản lý giáo dục của tập thể, cộng động, đoàn thể và gia đình là con đường dẫn tới hư hỏng, tự đánh mất chính bản thân mình.
b/. Những phẩm chất đạo đức cách mạng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà cán bộ, đảng viên, công chức phải thường xuyên học tập và noi theo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc ta một di sản vô giá, đó là tư tưởng của Người, trong đó có tư tưởng về đạo đức. Bản thân Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về đạo đức, Người đã để lại nhiều bài viết, bài nói, tác phẩm về đạo đức.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức dân tộc Việt Nam, là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng chủ nghĩa Mac – Lenin. Đó là sự tiếp thu có chon lọc và phát triển những tinh hoa đạo đức của nhân loại.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản và toàn diện về đạo đức, bao gồm: vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức.
Ngay từ lúc đầu đến với cách mạng Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng, Người viết “Nguời cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”
Với mỗi người, Hồ Chí minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng phát triển của mỗi con người, như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người viết “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”
Theo Hồ Chí Minh đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong thử thách. Người viết có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “Khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vũng tinh thân gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ, vui sau thiện hạ”
Với Hồ Chi Minh nêu ra năm điểm đạo đức mà người đảng viên phải gìn giữ cho đúng đó là:
Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân.
Ra sức phấn đấu để thực hiện mục tiêu của Đảng.
Vô luận trong mọi hoàn cảnh nào cũng quyết tâm chống mọi kẻ địch, luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu.
Vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết.
Hòa mình với quàn chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng.
Tư tưởng Hồ Chi Minh đặc biết mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ đảng viên, nhất là khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản di chúc, Nguời viết “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. thật sự cần kiêm liêm chính chí công vô tư”.
Những phẩm chất đạo đức cách mạng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà cán bộ, đảng viên, công chức phải thường xuyên học tập và noi theo. Đó là:
- Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại.
- Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương của ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục đích cách mạng
- Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân.
- Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương của lòng nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực vì con người
- Đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường.
Cần, kiêm, liêm, chính, chí công, vô tư là nền tảng của đời sống mới, là sản phẩm trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, là mối quan hệ “với tự mình”.Hồ Chi Minh quan niệm cần, kiêm, liêm, chính là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Và Người đã giải thích cặn kẽ, cụ thể nội dung từng khái niệm. Cần, kiêm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công, vô tư. Cần, kiêm, liêm, chính dẫn đến chí công, vô tư. Ngược lại chí công vô tư một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiêm, liêm, chính.
Đối với cán bộ, đảng viên học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất quan trong và thường xuyên, qua đó để giáo dục, rèn luyện mình, xứng đáng là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các nội dung cụ thể là:
Thưc hiện chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh “Trung với nước, hiếu với dân” cần quán triệt các nội dung của chủ nghĩa yêu nước trong giai đoạn mới; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng nước kém phát triển.
Thực hiện đúng lời dạy: “Cần, kiệm, chính, chí công vô tư” nêu cao phẩm giá của con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
Nâng cao ý thức dân chủ và kỷ luật, gắn bó với nhân dân, vì nhân dân phục vụ.
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cần phát huy chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa, chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
v>

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2008

HẮN MÀ


..........Hắn rót đầy ly, dù có nhẹ nhàng áp sát cổ chai vào miệng ly nhưng bọt vẫn đầy tràn, chỉ nửa phần ly là mầu sẫm còn lại là mầu trắng bông toàn bọt ga. Hắn gạt ngang bằng ngón tay trỏ ý muốn bỏ bớt phần bọt của bia, nhưng ông bạn ở bên nhanh nhảu ghé ly rót ào vào ly của Hắn, phần bọt tràn ra chỉ còn lại nước bia mầu nâu sẫm bằng đầy miệng ly...
Hắn ừ một tiếng ! Nâng ly lên ngang tầm mắt. Nào chúc mừng gặp mặt, trăm phần trăm ? Hắn ngửa cổ tu một hơi, mầu nâu sẫm trong ly như tuột mất để lại vài bóng bọt bên cạnh ly, hắn à một tiếng cho đúng giọng của gã làng chơi. Trong đầu hắn tưởng như thế mới đúng mốt.
Đã bao lần, có thể nói là hàng chục lần đi tiếp khách như vầy, nhưng lần này không phải là tiếp khách, mà là liên hoan tổng kết sau một ngày đại hội công nhân viên chức ..... cái khó chịu của Hắn không phải chỉ để cho cái đầu tỉnh táo, để tiếp khách ngoại giao, mà là chuyện ban chiều, chẳng phải uống bia, riệu như lúc này, nhưng khi ấy cái lưỡi của Hắn cứ cay cay, khó chịu làm sao ? Bởi khi chưa uống riệu nó cũng chẳng nói được những điều đáng nói !
Nó lầm tưởng những điều nó biết là người ta thừa hiểu rồi.
Hắn tưởng ai cũng như Hắn!
Thật là sai lầm một khi nghĩ về điều ấy, có giải thích bằng vái trời khi những kẻ bảo thủ đã lóa mù thì mắt nó nhìn toàn đêm đen....
Thôi thì chuyện đã qua, một ý kiến cá nhân ! Hắn tự động viên mình như vậy, Hắn gắp một miếng thịt bò hấp, Chọn một lá mơ to, có lẽ to nhất trong mớ lá mơ để trong đĩa, Hắn đặt nghiêng miếng thịt như thể để cuộn được cho nhiều vòng, gắp thêm một miếng khế chua, miếng chuối chát và cuốn vào, ngón tay út ngéo gập đầu miếng cuộn như thế để khỏi vương mắm tôm khi chấm, Hắn đưa lên miệng, với cặp mắt lim dim trong gọng kính 1,5 di ốp vừa thưởng thức cái mùi vị chua, chát, cay bùi béo của thịt Bò hấp. Hắn nhoẻn miệng cười như vừa thưởng thức một món ăn sơn hào hải vị...
Ừ chúc ngon lành. Tôi buông một câu như thế để tự động viên mình, bởi tôi biết Hắn bao giờ cũng vậy, cứ như không có chuyện gì !... với tính khiêm nhường, chẳng hề hiếu thắng, bản lĩnh của Hắn là vậy đấy .......

Thứ Ba, 24 tháng 6, 2008

LÁ TRẮNG

BÀN TAY VÀ ĐÔI MẮT
Lách cách dao kéo chạm vào nhau
Rào rào tiếng nước chảy
Ông Y sĩ mặc áo choàng
Cô Bác sĩ đứng rửa tay
Bệnh nhân tiêm thuốc ngủ say ngả đầu vào ghế tựa
*
Dưới ánh đèn xanh dựu
bệnh nhân nằm trên bàn
Bắc sĩ đeo khẩu trang
Khó mà nhìn rõ mặt
Chỉ còn rõ đôi mắt là ánh lên sáng ngời !
*
Phòng mổ trong im lặng
Nghe tiếng thở đều đều
Bàn tay người Bác sĩ
Như nói lên từng điều
*
Ai đã đến bệnh viện
Chắc hẳn sẽ yêu thôi
Bàn tay và đôi mắt
Mang sự sống cho đời .
Bệnh nhân cắt Abidan 15/05/1985
YÊU NGHỀ
( Tặng cô em Bác sĩ bệnh viện)
Tuổi còn thơ tôi mơ tới nghề Y
Có phải tôi yêu mầu trắng diệu kỳ
Hay câu "Lương Y như từ mẫu"
Cho tôi say trong ước vọng ban đầu
Không phải "mầu" cũng chẳng phải "câu"
Lời tổ quốc gọi tôi đi tới
Đến với Cao Nguyên - Người dân mong đợi
Sức trẻ của tôi và trí tuệ của anh
Phải làm gì cho đời tươi xanh
Cho nhân dân yên lành không còn bệnh tật
Ai có hỏi nghề gì tôi thích
Tôi trả lời yêu nhất nghề Y ./.
ĐPĐ 1985



Photobucket
Ảnh của tôi chụp cùng hai bạn thăm lại TN (Bác sỹ Đào, Trần Hải, Văn Trung, Đoàn Động)
Lá trắng
( Tôi đăng bài thơ này để nhớ thằng bạn Tứu lâm của tôi, nó yêu cô bạn hiện đang học bác sĩ ở mãi bên Tây thời ấy, nghe nói chúng nó yêu nhau với cái đầu trọc vào Cao nguyên để đánh cược với tình yêu một thời xa vắng, mãi tới cuối năm 1986 Mẹ đẻ của Trung vào đón bạn về cưới cho hai đứa, bây giờ hai đứa sống hạnh phúc với 1 thằng con trưởng thành ở Thủ Đô Hà Nội )
Một sáng mai bên rừng cà phê
Tôi bỗng gặp loài cây lá trắng
Lá và hoa tắm mình trong nắng
Có phải thương người lá biến thành hoa
*
* *
Bâng khuâng tôi nhìn mãi về xa
Mênh mông một mầu trắng hoa cà
Tìm bóng hình em trên đất lạ
Trắng lá hoa ngỡ áo trắng em
*
* *
Chiếc lá vô tình sao đỗi thân quen
Rung rinh gợi nhớ về ngõ vắng
Phút gần nhau lắm tay thầm lặng
Để tháng ba trắng buổi chia ly
*
* *
Tôi yêu em đã nói những gì
Em xa tôi không hẹn ngày gặp lại
Nhưng lòng tôi vẫn còn nhớ mãi
Mầu trắng tôi yêu" Mầu trắng diệu kỳ"
Ngày trở lại:
Tôi bảo em anh muốn làm bác sĩ
Áo trắng bên em trực đêm đêm
Đưa bàn chân nhỏ về lỗi nhớ
Che hạt sương -Đỡ ướt áo em
Lá yêu hoa hóa thành mầu trắng
Tôi yêu em sao lại xa em
Đường tôi đi giữa hai mùa nắng
Để áo em cứ trắng trông chờ.
*
* *
Cứ ngờ em trốn trong vòm lá
Em yêu ơi anh gặp chút thôi
In bóng hình em trong đáy mắt
Mênh mông mầu trắng tận trân trời
*
* *
Nâng chiếc lá hôn nhẹ hạt sương rơi
Chợt giật mình bốn bề hoang vắng
Em có biết Cao Nguyên mùa nắng
Bát ngát một mầu trắng yêu thương ./.
Thơ Văn Chùng
 Cao Nguyên 1984

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2008

Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2008

PHÓNG VỆ TINH ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM

PHÓNG VỆ TINH ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM
VÀ HÀNH TRÌNH CỦA VỆ TINH ĐỊA TĨNH (VINASAT1)
Hôm nay ngày 19-04-2008 vào đúng 5h17 giờ Hà Nội, ba động cơ tên lửa đã được kích hoạt, rời bệ phóng mang theo VINASAT-1 của Việt Nam và StarOne C2 của Brazil được phóng lên quỹ đạo, vệ tinh (VINASat 1) Vệ tinh đầu tiên của Việt Nam được phóng thành công từ bãi phóng Kourou - French – Guyana, quốc gia nam Mỹ (thuộc lãnh thổ hải ngoại của Pháp).
* - Quá trình đề xuất dự án và đàm phán:
+ Với tổng số vốn cho toàn bộ dự án là trên 200 triệu USD,
* - Quá trình phóng vệ tinh được chia làm 3 giai đoạn:
1- Giai đoạn sản xuất,
2- Giai đoạn thành lập trung tâm điều khiển,
3- Giai đoạn thành lập trung tâm khai thác và kinh doanh.
Phóng kép vệ tinh lên quỹ đạo diễn ra với thời gian là 34 phút 10 giây khi một tên lửa đẩy Ariane 5 của hãng ArianeSpace của châu Âu được sử dụng để phóng VINASAT-1 chỉ nặng gần 3 tấn và Star One C2 nặng gần 5 tấn, trong khi Ariane 5 có khả năng đẩy tới 9 tấn. Theo lịch trình, khi tới quĩ đạo chuyển đổi thì Star One C2 sẽ rời tên lửa đẩy trước do vệ tinh này được đặt trên vệ tinh địa tĩnh VINASAT-1 của Việt Nam. Bảy phút sau đó VINASAT-1 cũng sẽ được tách khỏi Ariane 5 và một tên lửa điều chỉnh sẽ đưa VINASAT-1 vào vị trí 132 độ Đông, lên độ cao khoảng 35.768km so với trái đất. Tại vị trí này, VINASAT-1 sẽ phủ sóng tới toàn bộ khu vực Đông Nam Á, đông Trung Quốc, Ấn Độ, bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản, Úc, Hawaii.
Trong không gian quả vệ tinh luôn luôn bị giao động, do vậy VINASAT được lắp thên các động cơ đẩy ở nhiều hướng, khi quả vệ tinh bị giao động chệch hướng với cự ly định sẵn làm cho vùng phủ sóng ở trái đất bị “méo” đi thì động cơ đẩy hoạt động và đưa quả vệ tinh về vị trí tĩnh của nó. Nhìn từ trái đất, vệ tinh VINASAT đứng nguyên một chỗ.
Với hai trạm điều khiển được xây dựng xong cách đây 1 năm, một trạm ở Quế Dương tỉnh Hà Tây và một ở Bình Dương, cùng với các thiết bị đã được lắp đặt kiểm tra thông số kỹ thuật và sẵn sàng vận hành khi vệ tinh được phóng lên, hai trạm này có nhiệm vụ giữ cân bằng cho quả vệ tinh đứng tĩnh trên quỹ đạo so với mặt đất.. Hệ thống khai thác có nhiệm vụ phân phối băng tần, lưu lượng của bộ phát đáp và trung tâm này cũng đã sẵn sàng hoạt động.
Khoảng một tháng đầu tiên trên quĩ đạo, các chuyên gia của Lockheed Martin sẽ tiến hành đo kiểm kỹ thuật để khẳng định VINASAT-1 hoạt động ổn định trước khi bàn giao quyền kiểm soát và khai thác cho VNPT. Trong thời gian hoạt động, nếu VINASAT-1 bay chệch khỏi quĩ đạo thì các kỹ sư tại Đài điều khiển vệ tinh Quế Dương (Hà Tây) sẽ điều khiển để VINASAT-1 trở lại đúng quĩ đạo ban đầu.


Vệ tinh VINASAT-1 là một vệ tinh thương mại, có dung lượng 20 bộ phát đáp và phục vụ được khoảng 10.000 kênh thoại, truyền dữ liệu, Internet , hoặc 120 kênh truyền hình trên băng tần C và KU. Vinasat 1 là loại vệ tinh trung bình, cao 4m, trọng lượng thô 1,1 tấn, sau khi bơm nhiên liệu sẽ nặng 2,6 tấn. Tuổi thọ trung bình 15-20 năm.


VINASAT-1 có hai phần thiết bị: phần tải chính gồm ăngten phát, ăngten thu, các thiết bị điện tử trợ giúp việc truyền dẫn sóng và phần nền gồm hệ thống trợ giúp phần tải chính hoạt động như hệ thống đẩy, nguồn điện, hệ thống điều khiển nhiệt độ, điều khiển trạng thái bay...Được sản xuất trên công nghệ khung A2100 - Công nghệ tiên tiến nhất của Lockheed Martin (Mỹ) được đưa vào khai thác thương mại từ năm 1996. Hiện có khoảng 30 vệ tinh thương mại trên thế giới sử dụng công nghệ này và đang hoạt động ổn định trên quĩ đạo. Hãng Arianespace (Pháp) sẽ đảm nhiệm phần phóng vệ tinh lên quĩ đạo từ Trung tâm vũ trụ Guyane. Hai nhà bảo hiểm gốc là Bảo Việt và Bảo hiểm Bưu điện sẽ bảo hiểm vệ tinh với trị giá 177 triệu.

Sử dụng tín hiệu của vệ tinh đối với lĩnh vực an ninh Quốc phòng, vệ tinh đảm bảo sự chỉ đạo đồng bộ với tính ổn định cao đến mọi nơi, mọi lúc mà hệ thống cáp và các dịch vụ phương tiện khác không có được. Vệ tinh cũng giải quyết được bài toán kinh tế cho việc thực hiện các mục tiêu đưa thông tin đến vùng sâu, vùng xa. Trong lĩnh vực y tế, giáo dục Quốc gia, hiện vẫn còn nhiều cơ sở vùng sâu vùng xa gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin đến với những tiến bộ khoa học, sử dụng tín hiệu từ vệ tinh việc điều trị bệnh và học tập sẽ dễ dàng hơn. Trong đó đáng chú ý là hỗ trợ, phục vụ cho thông tin phòng chống và ứng cứu đột xuất khi xảy ra bão lũ, thiên tai, hỏa hoạn
Về góc độ kinh tế, Việt Nam có vệ tinh riêng cũng tiết kiệm khá nhiều chi phí so với đi thuê vệ tinh của các nước trong khu vực ..Từ những năm 1980 Việt Nam bắt đầu sử dụng thông tin vệ tinh thông qua hệ thống InterSputnik của Liên Xô. Từ năm 1990, Việt Nam tăng cường đầu tư các trạm mặt đất để sử dụng vệ tinh Intelsat của Úc và từ năm 1991 bắt đầu phát truyền hình qua vệ tinh.Việt Nam đã phải đi thuê vệ tinh khoảng 2.024 kênh thông tin vệ tinh đi quốc tế, và hàng loạt kênh mạng thông tin vệ tinh nội địa với tổng chi phí thuê kênh vệ tinh lên đến hơn 8 triệu USD/ năm, nhu cầu của các ngành trong toàn Quốc trong những năm tới, nếu tính thì chi phí sẽ lớn hơn nhiều lần. Trong khi đó vệ tinh riêng của Việt Nam sẽ cho chi phí thấp hơn, giá cho thuê thương mại của một kênh vệ tinh thường cao hơn giá thành từ 1,8 đến 3 lần tùy thuộc vào cung cầu băng tần sử dụng.
Công ty Viễn thông Việt Nam, đơn vị được VNPT giao quản lý vận hành vệ tinh, và ngân sách nhà nước đầu tư phải mất khoảng 9 -10 năm khai thác mới có thể thu hồi đủ số vốn hơn 200 triệu USD đầu tư cho quả vệ tinh VINASAT-1
Việc phóng vệ tinh VINASAT1 mục tiêu đầu tiên là thương hiệu quốc gia, đối với một nước đang phát triển, một con rồng non ở châu Á thì không thể thiếu một quả vệ tinh thương mại của riêng mình.
Sau khi Vinasat 1 phóng thành công, một tháng nữa phải đo thử lại và sau đó mới chính thức khai thác. Tuy vậy đến nay, đã có một số đơn vị bắt đầu chuẩn bị chuyển sang dùng VINASAT-1 ngay khi vệ tinh được bắt đầu khai thác vào tháng 6-2008.
Trải khắp đất nước Việt Nam và vùng lân cận nếu có nhu cầu dịch vụ phủ sóng vệ tinh. Mọi nhà, mọi người đều có thể xen TV truyền hình vệ tinh, điện thoại vệ tinh, dùng Intenet băng thông rộng, từ vệ tinh VINASAT.
Hành trình của vệ tinh VINASAT-1
- Năm 1995: Tổng cục Bưu điện đề xuất Chính phủ sự cần thiết phải có vệ tinh riêng.
- Tháng 12-1995: Chính phủ đồng ý về mặt chủ trương việc xây dựng dự án phóng vệ tinh.
- Năm 1999: Chính phủ thành lập Ban chỉ đạo quốc gia dự án VINASAT-1.
- Năm 2002: Chính phủ thông qua các nội dung cơ bản của báo cáo nghiên cứu khả thi dự án VINASAT-1.
- Tháng 5-2006: VNPT ký hợp đồng cung cấp vệ tinh, dịch vụ phóng, thiết bị trạm điều khiển vệ tinh VINASAT-1 với nhà sản xuất Lockheed Martin Commercial Space Systems (Hoa Kỳ).
- Tháng 3-2008: VINASAT-1 được chuyển từ xưởng sản xuất tại Mỹ sang bãi phóng tại Trung tâm vũ trụ Guiana.
- Ngày 19-4-2008: VINASAT-1 chính thức được phóng lên Quỹ đạo.

+ Theo thông tin từ Arianespace, thời gian cho phép thực hiện việc phóng vệ tinh VINASAT-1 cùng vệ tinh Star One C2 của Brazil là từ 19g16-20g23 ngày 18-4 (giờ Guiana) và thời điểm phóng chính thức được thống nhất là 19g17, tức 5g17 ngày 19-4 giờ Hà Nội.
Quá trình đề xuất dự án và đàm phán
+ Năm 1995, Tổng cục Bưu điện đề xuất xây dựng dự án phóng vệ tinh và được Chính phủ đồng ý. Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam (Nay là Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam - VNPT) được giao xây dựng dự án và năm 1998 báo cáo tiền khả thi dự án được Chính phủ thông qua. Năm 1999 Chính phủ thành lập Ban chỉ đạo quốc gia dự án VINASAT. Năm 2001, Bộ Khoa học - công nghệ và môi trường phê duyệt VINASAT là một trong các nội dung chủ yếu của chương trình khoa học, công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2001-2005. Năm 2002, Chính phủ thông qua các nội dung cơ bản của báo cáo nghiên cứu khả thi dự án VINASAT-1
+ Khó khăn và kéo dài nhất là quá trình đàm phán quĩ đạo của VINASAT-1. Sau khi xác định quĩ đạo 132 độ Đông là vị trí lý tưởng cho VINASAT-1, các cơ quan chức năng đã làm việc với 27 quốc gia có liên quan để thỏa thuận cho Việt Nam sở hữu quĩ đạo 132 độ Đông mà không ảnh hưởng đến các vệ tinh khác đang hoạt động xung quanh. Những cuộc đàm phán “xương xẩu” nhất được nhắc đến là với Nhật Bản, Tonga, Trung Quốc, Indonesia, Nga - những quốc gia đã có vệ tinh hoặc đã đăng ký quĩ đạo cùng vị trí hoặc ở vị trí lân cận quĩ đạo 132 độ Đông. Mãi đến tháng 2-2005 việc đàm phán quĩ đạo mới cơ bản hoàn thành và VNPT chính thức được giao làm chủ đầu tư dự án.
13 năm - thời gian không ngắn song cần thiết đối với sự ra đời của vệ tinh viễn thông đầu tiên của Việt Nam Nếu tính từ thời điểm vệ tinh đầu tiên trên thế giới Sputnik 1 được Liên Xô phóng lên quĩ đạo thì đã hơn 40 năm. Cho đến nay, trên quĩ đạo đã có gần 300 vệ tinh thương mại đang hoạt động, cung cấp hàng loạt dịch vụ viễn thông hữu ích cho con người. Riêng châu Á đã có 80 vệ tinh của 20 nhà khai thác. Các nước trong ASEAN đã sở hữu vệ tinh trước Việt Nam gồm Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines.

Tổng hợp từ các bản tin về VINASAT-1

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2008

KỶ NIỆM NGÀY Ở VIỆN

Hôm nay 10/03/2008.
Kỷ niệm chiến thắng Buôn Ma Thuột, ngày 10/03/1975 giờ này ngày ấy mình đang nằm ở viện quân Y C17 (trong rừng sâu mà đường đi thì hàng chục cây số suối ngầm) Nằm nghe đài, "Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam đã hoàn toàn làm chủ Thị xã Buôn Ma Thuột"... Mở màn cho chiến dịch giải phóng hoàn toàn miền Nam (lúc ấy chưa công bố tên chiến dịch Hồ chí Minh) lúc này là 21 giờ đêm, cả lán của mình chỉ có 14 thương binh và mấy lán bên cạnh mỗi lán cũng có khoảng 18 đến 20 người, tất cả đều đồng loạt hô chiến thắng rồi, chiến thắng, chiếng thắng rồi, và hàng loạt vật được tung lên loạn xạ, đủ thứ! nào là vỏ bao thuốc lá, khăn mặt, áo lót, áo dài, cái nẹp bằng tre ở chân, ở tay, những cục bột bó lâu ngày được cưa sẵn nay ngẫu hứng được các chàng trai giật ... tung lên rớt bộp, bộp, và những nhịp gỗ của những cây nạng gỗ nghe như vang lên cùng nhịp, một âm thanh tạp lu, hỗn hợp ồn nên loạn xạ, phải mất đến ba bốn nhịp đầu, rồi nó cũng lại theo nhau vào nhịp, cứ như có người lĩnh xướng vậy,..Và thật bất ngờ, một vật rơi cộp vào vai mình, chỉ còn kịp nhắm mắt lại, miệng kêu Thằng nào đấy!.. khi cái bả vai xa xuống đau điếng, rồi mở mắt ra thấy ngay cục bột có ba ngón tay xòa ra ? quái lạ; 14 thằng ở lán này thì có đến 9 thằng gãy chân còn chống nạng, 3 thằng nằm cố định còn để trần đắp đầy bột, còn một thằng cụt tay đã cưa, và ông anh cao tuổi quê ở Phú Yên vẫn nhận mình là anh em kết nghĩa (vì hai tỉnh Phú Yên và Hải Dương ) thì cái của lạ này ắt phải ở lán bên bay sang, ..ấy vậy mà mình còn may chứ anh bạn ở góc nhà, bó bột đắp cao hơn mình đến ngực còn phải chịu "ắm" cả cái cẳng bột của ông bạn vừa tháo, gác ở đầu giường cách đây 2 ngày, hứng khới ngài tung lên,.. và dựng đứng ở ngay cái ngực cứng dầy bột nghe kịch một tiếng, kèm tiếng anh bạn; Đ. má vỡ bột ba mày rồi......
Niềm vui chiến thắng đến với cánh lính trẻ thật là hứng khởi, phấn chấn đến kỳ lạ, bởi nó như có phép mầu nhuộm hồng những khuôn mặt non tơ, làm long lanh những đôi mắt mà mới đây có vài ngày thôi còn đẫm lệ, còn ré lên khóc, khóc cho đã cơn đau, nước mắt là liều thuốc tê duy nhất trước lúc dao kéo xoáy vào da thịt, để gắp cho được mảnh bom, hòn đạn từ cơ thể mình ra. Vui trong chiến thắng cũng như say trong đánh trận vậy, những điệu bộ ngây thơ, vô tư đến chẳng còn biết mình đang ở trên giường bệnh.... 
Tôi chợt nhớ có một dòng thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật, ông như chộp được hình ảnh, khoảng khắc vốn có của người lính:

" Ngoảnh lại nhìn nhau trẻ lại bất ngờ
Vương trên mũ hạt sương tròn óng ánh
Chẳng ai biết đã qua trăm trận đánh
Chỉ thấy như úp cá dưới sông về ..."

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2008

TÌM HIỂU VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM



TÌM HIỂU VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Qua X kỳ đại hội

Câu hỏi 1: Đảng cộng sản Việt Nam do ai sáng lập, vào thời gian nào và được thành lập trên cơ sở hợp nhất những tổ chức cộng sản đầu tiên nào ?
Trả lời :
Đảng Cộng Sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Aí Quốc sáng lập, ngày 03/02/1930.
Hội nghị hợp nhất Đảng Cộng sản đã họp ở Cửu Long(Hương Cảng Trung Quốc). Thời gian từ ngày 03 đến ngày 07 tháng 2 năm 1930 vào dịp tết Canh Ngọ, Hội nghị đã nhát trí hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam với sự tham gia của đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh đại biểu của Đông Dương Cộng Sản Đảng, đồng chí Nguyễn Thiện và Châu Văn Liêm đại biểu của An Nam Cộng Sản Đảng và hai đại biểu nước ngoài, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Aí Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản. Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn không kịp cử đại biểu về dự có yêu cầu gia nhập Đảng đến ngày 24/2/1930 đã được tiếp nhận vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Câu hỏi 2 : Theo học thuyết Mác- Lênin, một Đảng Cộng Sản ra đời từ sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời kết hợp những yếu tố nào, tại sao như vậy .
Trả lời : Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu đánh dấu sự chuyển biến của giai cấp công nhân Việt Nam từ trình độ tự phát chuyển lên trình độ tự giác. với đường lối cứu nước đúng đắn, sang tạo, phù hợp với xu thế thời đại. đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài hàng thập kỷ đã được giải quyết, cách mạng Việt Nam đã có một Đảng mác xít kiên cường, có một đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lênin trong bối cảnh và hoàn cảnh thực tế của cách mạng việt Nam . Sự kết hợp đó chính là đường nối lãnh đạo tài tình giữa hai cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở nước ta, là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam tạo lên tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác mở ra một kỷ nguyên mới Kỷ nguyên độc lập dân tộc và đi đến Chủ nghĩa xã hội góp phần tăng cường lực lượng cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu chung : Hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, Đây là một sự kiện nổi bật của lịch sử thế giởi thế kỷ XX .
Câu hỏi 3 : Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta trải qua các kỳ đại hội nào, được tổ chức thời gian nào, tại đâu, nêu tên các đồng chí Tổng bí thư (hoặc bí tư thứ nhất) của Đảng từ khi Đảng ta được thành lập tới nay .
Trả lời : Từ khi được thành lập tới nay Đảng ta đã trải qua 9 kỳ đại hội .
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất : từ ngày 28 đến ngày 31-03-1935 tại một địa điểm trên phố Quan Công thuộc Ma Cao, Trung Quốc. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng, gồm 13 uỷ viên (9 uỷ viên chính thức và 4 uỷ viên dự khuyết) đại diện cho 600 đảng viên các đảng bộ của Đảng hiện đang hoạt động ở trong nước và nước ngoài đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm tổng bí thư của Đảng, BCBTW đã nhất trí cử đồng chí Nguyên Aí Quốc làm đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng Sản. Đến tháng 3-1938 đồng chí Nguyễn Văn Cừ được bầu vào ban thường vụ và sau đó được cử làm tổng bí thư, đến tháng 5-1941 đồng chí Trường Chinh làm tổng bí thư
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ lần thứ hai : Họp từ ngày 11đến ngày 19-02-1951 tại xã Vinh Quang huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Tham dự đại hội có 158 đại biểu chính thúc, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 766.349 Đảng viên đang sinh hoạt trong đảng bộ toàn Đông Dương Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu làm chủ tịch BCHTW Đảng, đồng chí Trường Chinh Được bầu làm tổng bí thư của Đảng. Đại hội cũng thảo luận và nhất trí thông qua Điều lệ mới của Đảng Lao động Việt Nam. Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động Việt Nam. Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và xây dựng Đảng theo nguyên tắc một Đảng vô sản kiểu mới, lấy tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt căn bản của Đảng; phê bình, tự phê bình là quy luật phát triển của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu hoạt động của Đảng.

Đại hội đại biẻu toàn quốc lần thứ ba : Họp từ ngày 05 đến ngày 10-9-1960 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 525 đại biểu chính thức, 51 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 550 nghìn đảng viên của Đảng, và 20 đại biểu quốc tế đến dự. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 uỷ viên chính thức và 31 uỷ viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 11 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh Được bầu làm chủ tịch BCHTW Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm bí thư thứ hất BCHTW Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thư bốn : Họp từ ngày 14đến ngày 20-12-1976 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1008 đại biểu thay mặt hơn cho hơn 1,55 triệu đảng viên trong cả nước, Trong số đại biểu đó có 214 đại biểu vào Đảng trước Cách mạng tháng Tám 1945, có 200 đại biểu đã từng bị đế quốc giam cầm, 39 đại biểu là anh hùng các lực lượng vũ trang và anh hùng lao động, 142 đại biểu là nữ, 98 đại biểu đại diện các dân tộc thiểu số… Đến dự Đại hội còn có 29 đoàn đại biểu các Đảng cộng sản, Đảng công nhân, phong trào giải phóng dân tộc và các tổ chức quốc tế. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 uỷ viên chính thức và 32 uỷ viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm có 14 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết.
Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm tổng bí thư của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ năm : Họp từ ngày 27 đến ngày 31- 03 -1982 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1033 đại biểu thay mặt cho hơn 1,727 triệu đảng viên trong cả nước, có 47 đoàn đại biểu Quốc tế. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết.
Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm tổng bí thư của Đảng. ngày 10-7-1986 đồng chí Lê Duẩn từ trần, đồng chí Trường Chinh được bầu làm tổng bí thư của Đảng ngày 14-7-1986.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ sáu: Họp từ ngày 15 đến 18-12-1986 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho trên hai triệu đảng viên trong cả nước, đến dự có 32 đoàn đại biểu Quốc tế. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI gồm 124 uỷ viên chính thức và 49 uỷ viên dự khuyết Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm tổng bí thư của Đảng, các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Dức Thọ được cử làm cố vấn BCHTW.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ bảy: Họp từ ngày 24 đến 27-6-1991 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.176 đại biểu thay mặt cho 2.155.022 đảng viên trong cả nước. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm tổng bí thư của Đảng. Đại hội đã thông qua Điều lệ của Đảng (sửa đổi). Điều lệ gồm 12 chương, 47 điều. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) gồm 146 uỷ viên. Hội nghị thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) đã bầu Bộ Chính trị gồm 13 uỷ viên.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ tám : Họp từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996 tại Thủ Đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.198 đại biểu thay mặt cho gần 2 triệu 130 nghìn đảng viên trong cả nước.
Đồng chí Đỗ Mười được bầu lại làm tổng bí thư của Đảng. Tại hội nghị trung ương 4 (khóa VIII) họp từ ngày 22 đến ngày 29-12 1997, BCHTW đã chấp thuận đề nghị của các đồng chí Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê ĐứcAnh xin rút khỏi bộ chính trị và suy tôn 3 đồng chí làm cố vấn BCBHW. Đồng chí Lê Khả Phiêu được bầu là tổng bí thư của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ chín : Họp từ ngày 19 đến ngày 22-4-2001 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.168 đại biểu thay mật cho 2.479.719 đảng viên trong cả nước. Đồng chí Nông Đức Mạnh đươc bầu làm tổng bí của Đảng, có 150 đồng chí ủy viên BCH Trung ương.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ mười: Họp từ ngày 18/04/2006 đến ngày 25/04/2006 tại Thủ đô Hà Nội, trước đó ngày 17/04/2006 tiến hành họp phiên trù bị, từ ngày 18/04 đến ngày 25/04/2006 tiến hành đại hội chính thức.Tổng số đại biểu có mặt Đại Hội là 1.176 đại biểu, thay mặt cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong cả nước, có 136 đại biểu là nữ giới chiểm tỷ lệ 11,56% và có 154 đại biểu là người dân tộc thiểu số chiểm 13,10%. Đại hội bầu ra BCH trung ương khóa X gồm 160 Ủy viên chính thức, 21 Ủy viên dự khuyết. Đại hội đã bầu Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X Gồm 14 Đồng chí Trong đó Đồng Chí Nông Đức Mạnh Là Tổng bí thư, Và ban bí thư Trung ương Đảng gồm 8 Đồng chí. Đại hội Có chủ đề và cũng là tiêu đề của báo cáo chính trị là: “ Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.
Câu hỏi 4: Hội nghị Trung ương lần thứ mấy của Đảng năm 1941 quyết định đường lối giải phóng dân tộc trong Cách mạnh tháng Tám ? nêu thời gian và địa điểm tiến hành hội nghị đó .
Trả Lời : Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa I) Đảng Cộng Sản Đông Dương tháng 5 - 1941 họp ở Pắc Bó từ ngày 10 đến ngày 19-5 -1941 do đồng chí Nguyễn Aí Quốc đại biểu Quốc Tế Cộng Sản chủ trì .
Hội nghị có ý nghĩa lịch sử to lớn. Hội nghị đã đánh giá những thắng lợi trong việc khôi phục và phát triển phong trào đấu tranh của quần chúng củng cố và phát triển đảng, đẩy mạnh cuộc vận động thu phục quần chúng mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chống chiến tranh, hòan chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng việt nam . Hội nghị phân tích sâu sắc mâu thuẫn chủ yếu của xã hội vạch ra những chính sách cụ thể sát hợp nhằm giải quyết mục tiêu chiến lược số 1 của cách mạng là độc lập dân tộc. Trên cơ sở đó mà có những chủ trương sáng tạo như thành lập mặt trận Việt Minh, tiến tới khởi nghĩa vũ trang cướp chính quyền, khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa toàn diện lập lên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cùng với nghị quyết hội nghị Trung ương tháng 3 năm 1938, Hội nghị Trung ương tháng 5/1941 có ý nghĩa quyết định đổi mới thắng lợi của các mạng tháng 8 năm 1945. Nghị quyết hội nghị đã góp phần bổ xung và phát triển lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta .
Câu hỏi 5 : Đại hội Đảng lần thứ mấy quyết định nước ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng : Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam ? Nêu nội dung cơ bản của của đường lối chiến lược này.
Trả Lời : Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp vào tháng 9 - 1960 đã xác định đường lối chung của cách mạng cả nước tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát trong lời khai mạc : " Đại hội lần này là đại hội xây dựng chủ xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà "..
Nội dung cơ bản của đường lối chiến lược gồm các vấn đề sau :
Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm cho miền bắc trở thành căn cứ địa cách mạng cả nước và đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạngViệt Nam và thống nhất đất nước.
Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước. Cách mạng miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam .
Hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng ấy có liên hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau nhằm thực hiện mục tiêu chung là giải phóng miền Nam , thống nhất đất nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất dân chủ và giầu mạnh thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam A và thế giới .
Câu hỏi 6: Đại hội lần thứ mấy của Đảng ta định ra đường lối đổi mới đất nước? nêu nội dung chính của đường lối .

Trả lời : Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng ta đã định ra đường lối đổi mới đất nước.

Nội dung chính của đường lối đổi mới đất nước gồm các vấn đề sau :
Tập trung đổi mới cơ cấu kinh tế, điều chỉnh chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa, thừa nhận và thể chế hóa sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần. Với tinh thần lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế nhằm giải phóng và phất triển lực lượng sản xuất; Đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ chế độ tập trung quan liêu hành chính bao cấp chuyển sang hạch toán kinh doanh, và vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHXN; đổi mới vai trò quản lý Nhà nước, thực hiện chính sách mở cửa, hợp tác rộng rãi với nước ngoài; đổi mới nội dung và phương thúc lãnh đạo của Đảng trên cơ sở nắm vững nguyên tắc, kiên định chủ nghĩa Mắc- Lênin, tư tưởng Hồ CHí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những thành tựu của nền văn minh nhân loại, bảo đảm cho quá trình đổi mới không đi chệch con đường Xã hội chủ nghĩa .
Đại hội đã vạch ra mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế xã hội trong 5 năm 1986-1990 là phải tập trung sức người sức của thực hiện cho bằng được ba trương trình kinh tế lớn : Lương thực - Thực phẩm , hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, coi đây là nội dung cụ thể của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên.
Câu hỏi 7 : Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được công bố khi nào? nêu nội dung cơ bản của cương lĩnh?

Trả lời : Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng.
Nội dung cơ bản của cương lĩnh đó là :
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất thấp. Đất nước trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả nặng nề. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ XHCN và nền độc lập dân tộc. Nhưng chúng ta cũng có những thuận lợi : Chính quyền về tay nhân dân, đất nước đi vào giai đoạn hòa bình xây dựng. Dân tộc ta là dân tộc anh hùng, có ý chí vươn lên mãnh liệt. Nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, cần cù lao động và sáng tạo. Chúng ta đã xây dựng được một số cơ sở vật chất ban dầu. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới là một thời cơ phát triển.
Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội : Do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm lo hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới .
Cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước ở mức độ khác nhau, Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá tình quốc tế hóa sâu sấc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống của các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt đối với những nước lạc hậu về kinh tế.
Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. XHCN đang đứng trước nhiều khó khăn thử thách, lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử.
Quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội trong tình hình đất nước và thế giới như trên, chúng ta phỉa tiếp tục nâng cao ý trí tự lực tự cường, phải phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của dân tộc, đồng thời mở rộng quan hệ quốc tế, tìm tòi bước đi, hình thức và biện pháp thích hợp để xây dựng thành công CNXH.
Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa trong quá trình xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc cần nắm vững những phương hướng cơ bản sau đây :
Một là, Xây dựng nhà nước XHCN, nhà mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa trong quá trình xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc cần nắm vững những phương hướng cơ bản sau đây :
Một là, Xây dựng nhà nước XHCN, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng Cộng Sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của tổ quốc và nhân dân.
Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nhà nước toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của CXNH, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân.
Ba là, để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phải thiết lập từng bước quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao với sự đa đạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động là hiệu quả kinh tế chủ yếu.
Bốn là, tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan Mác- Lê nin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần và xã hội , kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Củng cố và mở rộng Mặt trận tổ quốc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giầu nước mạnh. Thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân , đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Sáu là, xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam , Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tổ quốc và các thành quả cách mạng.
Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, đảm bảo cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta.
Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi két thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của XHCN, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta.
Mục tiờu tổng quỏt phải đạt tới khi kột thỳc thời kỳ quỏ độ là xõy dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của XHCN, với kiến trỳc thượng tầng về chớnh trị và tư tưởng, văn húa phự hợp, làm cho nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.
Câu 8: Quan điểm " lãnh đạo kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt" được đề cập lần đầu tiên trong văn kiện nào, vào thời gian nào của Đảng ta? Phân tích quan điểm này

Trả lời : Quan điểm "Lãnh đạo kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt" được đề cập lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng họp từ ngày 28-6 đến ngày 1-7- 1996 tại Thủ đô Hà Nội .
Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam là đại hội tổng kết 10 năm đổi mới từ đại hội VI đến đại hội VII và đề ra những mục tiêu, phương hứớng, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta trong thời kỳ đổi mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc mà nhiệm vụ trong tâm là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Qua 10 năm đổi mới đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội nhưng một số mặt vẫn chưa vững chắc .
Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ qúa độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước.
Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại, Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác .Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc thực hiên thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phụ khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội .
Sự nghiệp cách mạng của đất nước ta do Đảng Cộng Sản việt Nam lãnh đạo. Đảng ta là một đảng cầm quyền. Những thắng lợi và thành tựu, những thất bại và tổn thất của cách mạng đều gắn liền với trách nhiệm của Đảng. Quá trình đổi mới đất nước, Đảng nghiêm túc xem xét những sai lầm , khuyết điểm và yếu kém , của mình, đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo. Các thế lực chống chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc, đang chiã mũi nhọn vào Đảng, tập chung sức phá hoại nền tảng tư tưởng và tổ chức của Đảng. Thủ đoạn của họ là xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận sự huy sinh của những người cộng sản, thổi phồng sai lầm, khuyết điểm của Đảng, đòi thực hiện nhân quyền và dân chủ kiểu tư sản, đòi đa nguyên đa đảng nhằm tước bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Họ lợi dụng những kẻ cơ hội, phản bội về chính trị, hoặc thoái hóa về phẩm chất đạo đức để chia rẽ, làm suy yếu và phá hoại Đảng từ bên trong.
Nhận rõ yêu cầu mới của cách mạng và âm mưu chống phá Đảng nói trên. Đảng ta xác định trong giai đoạn hiện nay lãnh đạo kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt . Coi trọng tổng kết công tác xây dựng Đảng, Củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ . Tăng cường bản chất của giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng, Ngăn chặn khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trình độ và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội .
Câu hỏi 9 : Nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày thành lập Đảng, xin ông, bà, anh, chị, đồng chí vui lòng cho biết điều tâm huyết nhất của mình muốn góp ý kiến với Đảng để Đảng trong sạch vững mạnh ?
Trả lời : Nhân dịp kỷ niện 78 năm ngày thành lập Đảng điều mà tôi tâm huyết nhất muốn góp ý với Đảng để đảng trong sạch vựng mạnh như sau :
Đảng đã thật sự là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Một đảng thật sự vì nước vì dân . Ngoài lợi ích trên Đảng ta không có lợi ích nào khác suốt 78 năm qua vai trò lãnh đạo của Đảng Sản Việt Nam đã được cả dân tộc ta thừa nhận và tin tưởng.
Thực hiện chính sách đổi mới đất nước ta đã thu được những thắng vô cùng lợi to lớn và có ý nghĩa quan trọng. Từ một nước nghèo lạc hậu chậm phát triển nước ta đã trở thành nước phát triển mạnh, chúng ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bằng cách tăng cường phát triển kinh tế nội lực và thu hút đầu tư nước ngoài tận dụng mọi nguồn lực để xây dựng đất nước, Trong cơ chế mở vẫn còn có không ít những tệ nạn xã hội mà Đảng ta cần phải có những biện pháp chế tài và tiêu diệt, không để nó trở thành đại dịch. Tham nhũng, hối lộ cửa quyền sách nhiễu dân, thoái hóa biến chất về đạo đức và lối sống "của một bộ phận không nhỏ là cán bộ Đảng viên, có chức có quyền" đã làm sói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Ngày nay xây dựng một nền kinh tế phát triển mạnh là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng ta, thì nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng viên mạnh về năng lực mà còn phải trong sạch, tậm tụy với công việc thật sự là những “công bộc của nhân dân” và vì dân phục vụ “ Cần kiệm liêm chính - Chí công vô tư “ phải luôn noi theo tấm gương đạo đức của Chủ Tịch Hồ Chí Minh làm như vậy mới thực sự là những cán bộ chủ chốt cho sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã chỉnh đốn trong Đảng, đã có biện pháp chống nhưng chưa mạnh. Vẫn còn có nhiều cán bộ, công chức là những kẻ cơ hội chui vào Đảng, ham chức quyền, vô cảm với nhân dân còn và sinh ra ngày một nhiều, tệ tham nhũng, hối lộ và cửa quyền nó đẻ ra loại người mua quan, bán chức bằng tiền của dân, ăn chơi xa đoạ đã gần như là nối sống, trở nên ngày càng nghiêm trọng trong tất cả mọi lĩnh vực kinh tế XH nó đã trở thành quốc nạn, giặc nội xâm đối với đất nước ta. Không thể nói "nên chống" mà phải diệt cho được tận gốc loại trừ nó ra khỏi túi áo, ghế ngồi như diệt trừ loại rệp trong hàng ngũ của Đảng. Còn hay mất lòng tin của quần chúng đó chính là cả một quá trình đấu tranh gay go và quyết liệt, đang đòi hỏi nhận thức của mỗi đảng viên mà Đảng ta cần phải chỉnh đốn làm ngay./.
Tập hợp sưu tầm Số liệu trên các tư liệu về Đảng, và sách NXBCTQG
Đoàn Phát Động Tìm Hiểu về Đảng tháng 03/2008